#99 – Nền chính trị mới của Nhật Bản

Nguồn: William Choong (2013). “Japan’s New Politics”, Survival: Global Politics and Strategy, Vol. 55, No. 3, pp. 47-54.

Biên dịch: Nguyễn Hướng Đạo | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Download: Nen chinh tri moi cua Nhat Ban.pdf

Bài liên quan: #20 – Nhật Bản trong lòng Châu Á

Tháng 12 năm 2012, Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản, đứng đầu là Shinzo Abe, đã giành được một thắng lợi áp đảo trong cuộc bầu cử. Sau ba năm chịu sự lãnh đạo của Đảng Dân chủ Nhật Bản, ông Abe, người đã từng giữ chức thủ tướng từ tháng 9 năm 2006 đến tháng 9 năm 2007, đã giành lại được quyền lực bằng việc tập trung vào chủ nghĩa dân tộc đang dâng cao và ý thức của cử tri về những nguy cơ đe dọa an ninh quốc gia.

Quan điểm xét lại của Abe đối với lịch sử và quyền lực trên thế giới của Nhật Bản đã được biết đến rộng rãi. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của ông Abe, Tokyo đã thông qua một đạo luật quy định các quy trình chi tiết để tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý toàn quốc nhằm sửa đổi bản hiến pháp hòa bình của quốc gia. Đảng cầm quyền của ông Abe kêu gọi từ bỏ trật tự chính trị thời kỳ hậu chiến của Nhật Bản, được cho là đã hạn chế đất nước trong những vấn đề như việc viếng thăm khu tưởng niệm chiến tranh tại đền Yakusuni, Tòa án tội phạm chiến tranh Tokyo và vấn đề phụ nữ bị quân đội Hoàng gia Nhật Bản bắt làm nô lệ tình dục (comfort women) trong Đệ nhị Thế chiến. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại An ninh CA-TBD | Thẻ , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

#98 – Năm trụ cột trong đại chiến lược của Mỹ

Nguồn: Paul D. Miller (2012). “Five Pillars of American Grand Strategy”, Survival: Global Politics and Strategy, Vol. 54, No. 5, pp. 7 – 44.

Biên dịch và Hiệu đính: Nguyễn Thị Nhung

Download: Nam tru cot trong dai chien luoc My.pdf

Bài liên quan:  #6- Nước Mỹ ở Châu Á – Thái Bình Dương

Trong một bài viết trước trên Survival, tôi đã cho rằng, trái với niềm tin phổ biến hiện nay, Hoa Kỳ vẫn đang theo đuổi ít nhất một trụ cột của một đại chiến lược không công khai kể từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, đó là xây dựng nền hòa bình nhờ dân chủ (democratic peace).[1] Nền hòa bình nhờ dân chủ đã ảnh hưởng đến hầu hết các sáng kiến chính sách đối ngoại lớn của Mỹ trong ít nhất hai thập kỷ qua, và đúng như vậy: nó có nhiều điểm mạnh khiến người ta muốn thúc đẩy nó, bao gồm cả việc nó phù hợp với các giá trị mà cử tri Mỹ ủng hộ rộng rãi. Nhưng đấu tranh cho tự do chỉ là một phần của đại chiến lược của Mỹ, bên cạnh đó còn có bốn cấu phần khác: bảo vệ lãnh thổ Mỹ khỏi bị tấn công, duy trì thế cân bằng quyền lực giữa các cường quốc theo hướng có lợi cho Mỹ, trừng phạt những thành phần bất hảo, và đầu tư nâng cao quản trị tốt cũng như năng lực của các đồng minh ở nước ngoài.[2] Cũng như mục đích ủng hộ dân chủ, những mục tiêu rộng rãi này cũng nằm trọn trong xu thế chủ đạo của chính sách đối ngoại Mỹ khi giành được sự ủng hộ của cả hai đảng, và luôn được duy trì nhất quán đến mức đáng kinh ngạc trong nhiều thập kỷ.

Tiếp tục đọc

Đăng tải tại An ninh quốc tế, Hoa Kỳ, Lịch sử, Quân sự - Chiến lược | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

#97 – Các điều ước không được phê chuẩn, nền chính trị quốc nội và Hiến pháp Hoa Kỳ

Nguồn: Curtis A. Bradley (2007). “Unratified Treaties, Domestic Politics, and the U.S. Constitution”, Harvard International Law Journal, Vol. 48, No. 2 (Summer), pp. 307- 336.>>PDF

Biên dịch: Từ Minh Thuận | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Download: Dieu uoc khong duoc phe chuan Hoa Ky.pdf

Giới thiệu

Nhiều nhà bình luận ủng hộ quan điểm mở rộng ảnh hưởng của luật pháp quốc tế cũng đồng tình với quan điểm hạn chế quyền hành pháp của chính phủ các quốc gia. Các nhà bình luận này không nhận ra rằng có một sự mâu thuẫn tiềm tàng giữa hai quan điểm trên. Trong bài viết này, tôi sẽ xem xét một ví dụ minh chứng cho mâu thuẫn có thể xảy ra đó: hiệu lực pháp lý của các điều ước quốc tế đã được ký nhưng không được phê chuẩn.

Việc thực hiện các điều ước hiện tại cho thấy, việc một quốc gia ký một điều ước, đặc biệt là một điều ước đa phương, thường sẽ không (tự động) đưa quốc gia đó trở thành thành viên của điều ước. Thay vào đó, các quốc gia trở thành thành viên của các điều ước bằng hành động phê chuẩn hay gia nhập điều ước, thông qua việc nộp một văn kiện phê chuẩn hay gia nhập cho một cơ quan lưu chiểu (đối với điều ước đa phương), hoặc trao đổi văn kiện phê chuẩn (đối với điều ước song phương). Việc ký điều ước theo thông lệ chỉ là dấu hiệu cho thấy các quy định trong điều ước thỏa mãn mong muốn của cơ quan hành pháp phụ trách việc đàm phán và ký điều ước của quốc gia đó. Hành động đó không đồng nghĩa với việc đảm bảo quốc gia đó sẽ trở thành một bên tham gia điều ước. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Hoa Kỳ, Luật pháp quốc tế | Thẻ , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

#96 – Điều gì xảy ra nếu Châu Âu thất bại?

Nguồn: Thomas Wright (2012). “What if Europe Fails?”, The Washington Quarterly, Vol. 35, No. 3, pp. 23 – 41.>>PDF

Biên dịch: Hoàng Việt Huy | Hiệu đính: Nguyễn Thành Trung

Download: Dieu gi xay ra neu Chau Au that bai.pdf

Bài liên quan: #91 – Khủng hoảng nợ công Châu Âu

Liên minh Châu Âu đang rơi vào một cuộc đấu tranh khốc liệt về chính trị, ngoại giao và kinh tế để nhằm duy trì tương lai của đồng tiền chung, đồng Euro và sự bền vững của “dự án”, được hiểu là quá trình hội nhập đã trở thành nền tảng của nền chính trị Tây Âu nửa thế kỷ qua. Có thể những cố gắng của các quốc gia thành viên gặp thất bại, trong ngắn hạn hoặc dài hạn, và dẫn đến kỷ nguyên của sự tan rã. Một số đã lên tiếng báo động: Thủ tướng Đức Angela Merkel với câu nói nổi tiếng: “Nếu đồng Euro thất bại, Châu Âu thất bại.”1 Nguyên Tổng thống Pháp Nicolas Sarkozy dự đoán: “Nếu đồng Euro tan vỡ, Châu Âu sẽ tan vỡ. Nó [đồng Euro] là sự đảm bảo cho hòa bình ở một lục địa nơi đã từng có những cuộc chiến tranh khủng khiếp.”2 Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Ba Lan Radek Sikorski cảnh báo sự sụp đổ của liên minh Châu Âu có thể gây ra một cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất.3 Nhà kinh tế học Dani Rodrik thuộc Đại học Harvard cảnh báo: “Kịch bản ác mộng có thể là một chiến thắng mang hơi hướng của những năm 1930 cho phe chủ nghĩa chính trị cực đoan. Sau cùng, “chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quốc xã và chủ nghĩa cộng sản là mầm mống của một sự phản ứng mãnh liệt chống lại sự toàn cầu hóa.”4 Sự xói mòn dân chủ ở Hungary và sự gia tăng ủng hộ các đảng dân túy ở Hi Lạp, Hà Lan, Phần Lan và Pháp có thể là khởi đầu cho sự kết thúc. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Kinh tế chính trị quốc tế | Thẻ , , , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

#95 – Trung Quốc tới hạn? Cải cách ở cấp cao hay cách mạng từ dưới lên?

Nguồn: Cheng Li (2013). “China at the Tipping Point? Top-Level Reform or Bottom-Up Revolution?”, Journal of Democracy, Vol. 24, No. 1 (January), pp. 41-48.

Biên dịch: Đỗ Thị Thanh Ngọc | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Download: Cai cach o cap cao hay cach mang tu duoi len.pdf

Bài liên quan: #42 – Trung Quốc tới hạn? Chi phí gia tăng của sự ổn định; #60B – Đảng cộng sản có thể tồn tại bao lâu nữa ở Trung Quốc?

Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gần đây phải đối mặt với nhiều bất ổn xã hội, kinh tế phát triển chậm lại, và nạn tham nhũng tràn lan như đã được phơi bày trong vụ việc Bạc Hy Lai. Tuy thế giới bên ngoài khó thấy rõ, nhưng có hai góc nhìn hoàn toàn trái ngược và gây nhiều tranh cãi về tương lai gần và trung hạn của quốc gia này hiện đang cạnh tranh lẫn nhau. Hai kịch bản trái ngược này phản ánh những đánh giá khác nhau cơ bản về tình hình kinh tế – xã hội và quỹ đạo chính trị khả dĩ (trong tương lai) của quốc gia đông dân nhất thế giới này.

Kịch bản thứ nhất là sự hình dung về một cuộc cách mạng bất ngờ từ dưới lên. Kịch bản này gần đây đã tạo nên nhiều tranh cãi sôi nổi trong giới học thuật và chính trị Trung Quốc. Vào tháng 12 năm 2011, tác giả 30 tuổi của những tác phẩm bán chạy nhất – Hàn Hàn (Blogger nổi tiếng nhất Trung Quốc với trang cá nhân đạt đến 580 triệu lượt đọc) đã đăng một bài viết với tựa đề là “Về Cách mạng” (“On Revolution”)[1] đang nổi tiếng hiện nay. Mặc dù Hàn Hàn đưa ra quan điểm “cách mạng khó có thể là lựa chọn tốt cho Trung Quốc”, góc nhìn gây chú ý của ông về  sự lựa chọn giữa đổi mới và cách mạng đã phản ánh một cách sâu sắc và cải thiện đáng kể nhận thức của công chúng về rủi ro diễn ra cách mạng ở đất nước này. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Trung Quốc | Thẻ , , , | %(count) bình luận

#94 – Nhân tố Mỹ: Trung – Mỹ xích lại gần nhau và thái độ của TQ đối với Chiến tranh Việt Nam, 1968-72

Nguồn: Chris Connolly (2005). “The American Factor: Sino-American Rapprochement and Chinese Attitudes to the Vietnam War, 1968–72”, Cold War History, Vol. 5, No. 4, pp. 501-527.

Biên dịch: Trần Hương Phong | Hiệu đính: Vương Thảo Vy

Download: Trung My xich lai gan nhau – chien tranh VN.pdf

Bài liên quan: #59 – Yếu tố kinh tế trong rạn nứt quan hệ Việt – Trung giai đoạn 1972-75

Rõ ràng là bất kỳ công trình nghiên cứu nào về Hoa Kỳ và Trung Quốc trong thập niên 1960 và 1970 ắt hẳn đều dẫn chiếu đến cuộc chiến tranh Việt Nam, cũng như bất kỳ công trình nào về sự can dự của Trung Quốc vào cuộc chiến Việt Nam không thể bỏ qua mối quan hệ dần khởi sắc của Trung Quốc Hoa Kỳ. Tuy nhiên, kể từ khi công khai các tài liệu từ thời chính quyền Nixoncông bố các công trình học thuật bằng tiếng Trung gần đây, chưa một nghiên cứu hệ thống nào về mối liên hệ giữa hai quá trình chính trị này. Bài viết sau đây ghi chép lại tác động của việc Trung-Mỹ xích lại gần nhau lên thái độ của Bắc Kinh đối với cuộc chiến tranh Việt Nam, và đã khiến Trung Quốc thay đổi tới mức độ nào chính sách của mình đối với Việt Nam. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Lịch sử, Trung Quốc, Việt Nam | Thẻ , , , , | %(count) bình luận

#93 – So sánh chế độ tổng thống với chế độ đại nghị

Nguồn: Joseph W. Robbins, “Presidentialism versus Parliamentalism”, in John T. Ishiyama and Marijke Breuning (eds), 21st Century Political Science: A Reference Handbook, (Thousand Oaks, CA: SAGE Publications, 2011), pp. 177- 185.

Biên dịch và Hiệu đính: Vũ Thị Hương Giang

Download: So sanh che do tong thong voi che do dai nghi.pdf

Liệu một đất nước áp dụng chế độ tổng thống hay chế độ đại nghị là khác biệt vô cùng có ý nghĩa. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các hệ thống tổng thống mang lại nhiều chính sách thương mại cởi mở hơn và những chi tiêu đặc thù lớn hơn (ví dụ ngân sách giao thông, trợ cấp nông nghiệp, v.v…) và phù hợp hơn với việc đại diện cho toàn bộ cử tri (Cheibub, 2006; Evans, 2004; Keech & Pak, 1995; Shugart & Carey, 1992). Ngoài ra, và có lẽ còn quan trọng hơn, các nhà nghiên cứu cho rằng rằng các chế độ tổng thống có nguy cơ gặp xung đột nhiều hơn và, trong một số trường hợp, dễ dẫn đến sụp đổ dân chủ (Linz, 1990a, 1994). Những công trình gần đây còn đi xa hơn thế nhằm giúp chúng ta hiểu được những khác biệt tinh tế giữa các loại hình chế độ. Cuốn sách (năm 2009) của Margit Tavits xem xét liệu các tổng thống được bầu cử trực tiếp trong các chính phủ nghị viện có dẫn đến nhiều chia rẽ chính trị hơn không, có sản sinh ra sự thờ ơ bao phủ giới cử tri không, và các xung đột liên chính phủ có thường xuyên hơn không. Tương tự, đã có nhiều bài viết về lợi ích của chính phủ đại nghị vì chúng được coi là khác biệt cơ bản so với (các lợi ích của) hệ thống tổng thống. Cụ thể, chính phủ đại nghị được cho là có chi tiêu hàng hóa công nhiều hơn (ví dụ như giáo dục, y tế, và lương hưu) và hiệu quả, bền vững hơn các loại chế độ khác. Do đó, cần phải nhấn mạnh những khác biệt giữa các chế độ ấy bằng cách tập trung vào cách thức bầu cử ra đơn vị hành pháp và lập pháp chính, cách hai nhánh này tương tác với nhau, và cách hình thành chính phủ. Khi chúng ta có thể phân biệt rõ ràng các loại chính phủ khác nhau, chúng ta mới có thể xác định tốt hơn sự liên quan nhằm hiểu những chủ đề như hoạch định chính sách, đại diện và tồn vong của nền dân chủ. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chính trị học đại cương, Chính trị quốc tế | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

#92 – Một số điều kiện xã hội tiên quyết của nền dân chủ: Sự phát triển kinh tế và tính chính danh chính trị

Nguồn: Seymour Martin Lipset (1959). “Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy”, The American Political Science Review, Vol. 53, No.1 (March), pp. 69-105.>>PDF

Biên dịch: Đoàn Trương Hiên | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp

Download:  Mot so dieu kien xa hoi tien quyet cua nen dan chu.pdf

Lời giới thiệu: Nếu nhìn vào tình hình Thái Lan hiện nay, có thể thấy câu hỏi các điều kiện xã hội nào giúp tạo nên một nền dân chủ ổn định là một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt đối với vận mệnh chính trị của mọi quốc gia.  Trong bài viết nhiều ảnh hưởng gần như trở thành kinh điển này (đã được trích dẫn hơn 4.000 lần), tác giả Saymour M. Lipset phân tích các điều kiện gắn liền với sự phát triển kinh tế (bao gồm mức độ công nghiệp hóa, sự thịnh vượng, đô thị hóa, và nền giáo dục) tác động ra sao tới tính chính danh chính trị và mức độ ổn định của một nền dân chủ. Tác giả cũng phân tích tầm quan trọng đặc biệt của hiệu quả chính phủ cũng như các cơ chế giảm các chia rẽ xã hội trong việc duy trì một nền dân chủ ổn định. Nghiencuuquocte.net xin trân trọng giới thiệu với các bạn bài viết quan trọng này.

Các điều kiện liên quan đến sự tồn tại và ổn định của xã hội dân chủ từ lâu đã là một mối quan tâm hàng đầu của triết học chính trị. Trong bài viết này, vấn đề sẽ được công kích trên quan điểm xã hội và hành vi học, bằng cách đưa ra một số giả thuyết liên quan đến một số điều kiện tiên quyết hình thành xã hội dân chủ, và bằng cách thảo luận một số dữ liệu có sẵn để kiểm chứng những giả thuyết này. Khi xem xét các điều kiện – như các giá trị, các thể chế xã hội, các sự kiện lịch sử – vốn nằm ngoài bản thân hệ thống nhưng lại làm nền tảng duy trì các dạng hệ thống chính trị phổ biến, bài viết sẽ vượt ra khỏi phạm vi thông thường mà xã hội học chính trị công nhận. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Chính trị học đại cương, Chính trị quốc tế | Thẻ , , , , , | %(count) bình luận

#91 – Khủng hoảng nợ công Châu Âu

Nguồn: Philip R. Lane (2012). “The European Sovereign Debt Crisis”, Journal of Economic Perspectives, Vol. 26, No. 3 (Summer), pp. 49–68.>>PDF

Biên dịch: Ninh Thị Thanh Hà | Hiệu đính: Lê Hồng Hiệp[1]

Download: Khung hoang no cong chau Au.pdf

Bài liên quan: #11- Xử lý cuộc khủng hoảng Châu Á: IMF và Hàn Quốc;  #52 – IMF: Phương thuốc hay tai họa?

Ngay từ đầu, năng lực chống đỡ những cú sốc vĩ mô và tài chính tiêu cực của các nước thành viên khối đồng tiền chung châu Âu đã được xác định là thử thách chính đối với sự thành công của đồng tiền chung này (chẳng hạn trong tạp chí này, xem Feldstein 1997; Wyplosz 1997; Lane 2006). Thông qua việc bỏ đi lựa chọn làm mất giá đồng tiền quốc gia, một cơ chế truyền thống để điều chỉnh sự chênh lệch về kinh tế giữa các quốc gia đã bị loại bỏ. Hơn nữa, khu vực đồng euro không giống với mô hình khối “liên minh đô-la” của Mỹ trên nhiều khía cạnh mấu chốt, bởi vì liên minh tiền tệ (châu Âu) không đi kèm với mức độ liên minh ngân hàng hoặc liên minh tài khóa đáng kể. Thay vào đó, việc giữ lại trách nhiệm quốc gia đối với các quy định tài chính và chính sách tài khóa được cho là khả dĩ hơn.

Một mặt, khả năng đi vay bằng đồng tiền chung của các chính phủ đã gây ra vấn đề hiển nhiên “người ăn theo” (free-rider) nếu các nước khác chịu áp lực buộc phải cứu trợ quốc gia đã vay mượn một cách thái quá (Buiter, Corsetti, và Roubini 1993; Beetsma và Uhlig 1999). Ý tưởng ban đầu của đồng tiền chung châu Âu euro là tìm cách giải quyết vấn đề muốn vay nợ quá mức bằng hai cách. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Kinh tế chính trị quốc tế, Lịch sử kinh tế | Thẻ , , , | %(count) bình luận

Thông báo: Ra mắt chuyên mục “Từ ngữ thú vị”

Từ hôm nay Dự án Nghiencuuquocte.net ra mắt chuyên mục mới “Từ ngữ thú vị” tại địa chỉ: http://nghiencuuquocte.net/tu-ngu-thu-vi/ Độc giả có thể truy cập trang này từ menu phía dưới banner của website. Tiếp tục đọc

Đăng tải tại Thông báo | Bạn nghĩ gì về bài viết này?